Thursday, January 12, 2017

OM MANI PADME HUM



OM MANI PADME HUM







It is very good to recite the mantra Om mani padme hum, but while you are doing it, you should be thinking on its meaning, for the meaning of the six syllables is great and vast.
The first, Om is composed of three letters, A, U, and M. These symbolize the practitioner’s impure body, speech, and mind; they also symbolize the pure exalted body, speech, and mind of a Buddha.
Can impure body, speech, and mind be transformed into pure body, speech, and mind, or are they entirely separate? All Buddhas are cases of beings who were like ourselves and then in dependence on the path became enlightened; Buddhism does not assert that there is anyone who from the beginning is free from faults and possesses all good qualities. The development of pure body, speech, and mind comes from gradually leaving the impure states arid their being transformed into the pure.
How is this done? The path is indicated by the next four syllables. Mani, meaning jewel, symbolizes the factors of method-the altruistic intention to become enlightened, compassion, and love. Just as a jewel is capable of removing poverty, so the altruistic mind of enlightenment is capable of removing the poverty, or difficulties, of cyclic existence and of solitary peace. Similarly, just as a jewel fulfills the wishes of sentient beings, so the altruistic intention to become enlightened fulfills the wishes of sentient beings.
The two syllables, padme, meaning lotus, symbolize wisdom. Just as a lotus grows forth from mud but is not sullied by the faults of mud, so wisdom is capable of putting you in a situation of non-contradiction whereas there would be contradiction if you did not have wisdom. There is wisdom realizing impermanence, wisdom realizing that persons are empty, of being self-sufficient or substantially existent, wisdom that realizes the emptiness of duality-that is to say, of difference of entity between subject an object-and wisdom that realizes the emptiness of inherent existence. Though there are many different types of wisdom, the main of all these is the wisdom realizing emptiness.
Purity must be achieved by an indivisible unity of method and wisdom, symbolized by the final syllable hum, which indicates indivisibility. According to the sutra system, this indivisibility of method and wisdom refers to wisdom affected by method and method affected by wisdom. In the mantra, or tantric, vehicle, it refers to one consciousness in which there is the full form of both wisdom and method as one undifferentiable entity. In terms of the seed syllables of the five Conqueror Buddhas, hum is the seed syllable of Akshobhya – the immovable, the unfluctuating, that which cannot be disturbed by anything.
Thus the six syllables, om mani padme hum, mean that in dependence on the practice of a path which is an indivisible union of method and wisdom, you can transform your impure body, speech, and mind into the pure exalted body, speech, and mind of a Buddha. It is said that you should not seek for Buddhahood outside of yourself; the substances for the achievement of Buddhahood are within. As Maitreya says in his Sublime Continuum of the Great Vehicle (Uttaratantra), all beings naturally have the Buddha nature in their own continuum. We have within us the seed of purity, the essence of a One Gone Thus (Tathagatagarbha), that is to be transformed and fully developed into Buddhahood.

TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG CHÚ



TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG CHÚ


NIM PHT GIÚP TÂM ĐƯỢC BÌNH AN
TRÌ CHÚ GIÚP TÂM ĐƯỢC ĐỊNH TĨNH


Khi được định tĩnh thì mọi căng thẳng, sợ hãi, lo âu, sầu muộn, buồn phiền được tan biến, và ở trạng thái này sẻ giúp hệ kháng thể của chúng ta tăng cường, hệ miễn nhiễm được phát triển tốt. Nhờ đó nó giúp chúng ta kháng cự lại được một số bệnh tật và vượt qua được bằng tinh thần vững trãi không sợ hãi để chúng ta sống khỏe mạnh và bình phục được các chứng bệnh ở mức độ đơn thuần.


LỢI ÍCH TRÌ TỤNG CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG

Theo Kinh Tiêu tai Cát Tường: Khi Phật ở tại từng trời Tịnh Cư nói với các thiên chúng cùng các vị quản lý 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng: “Có chú Xí Thạnh Quảng Đại Oai Đức Đà La Ni” của Phật Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây là pháp để trừ những tai nạn. Nếu trong Đế đô quốc giới có các vị đặc trách sao yêu tinh đến làm những điều chướng nạn, hay những vị đặc trách sao quan hệ bổn mạng của nhân loại có gì bất tường phải lập đạo tràng, rồi khắc ký mà niệm chú này 108 biến thì tai chướng tức thời trừ diệt hết.”

NỘI DUNG CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG


Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẫm.
A bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẫm.
Ðát diệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, ta phạ ha.




Kính Đàn Chuẩn Đề



Kính Đàn Chuẩn Đề
Chất liệu:  đồng
Kích thước: đường kính gương 12 cm
 Ðem kính tròn xông trầm. Ðến 10 giờ đêm tối ngày rằm, trước tượng Chuẩn Ðề, xây mặt về hướng đông, tướng ngó hướng tây. Hành giả ngó hướng đông, cúng dường hương hoa trang nghiêm, xông an tức hương và tịnh thủy, kiết ấn Chuẩn Ðề, trì chú 108 biến vào Kính đàn (tức là thành tựu đàn pháp). Mỗi khi tụng niệm, để kính trước mặt, tụng xong bỏ kính vào cất trong đãy vải, khi đi đâu đem theo để hộ thân.

Phật dạy: "Nếu muốn cầu thành tựu, trước phải y Đàn pháp. — đây không đồng như các bộ khác, phải rộng tu cúng dường, cuốc đất thoa hương, mới kiến lập được đạo tràng. Chỉ lấy một cái kính soi mặt mới chưa từng dùng, để trước tượng Phật, vào đêm tối rằm, tháng nào cũng được, tùy sức trang nghiêm cúng dường, xông an tức hương, và nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm tuyệt dứt tư duy tạp niệm. Nhiên hậu kiết ấn tụng chú, chú vào trong Kính Đàn 108 biến rồi lấy kính bỏ vào trong hộp hhay đãy vải mới. Thường giữ gìn tùy thân. Sau này mỗi khi muốn trì niệm chỉ lấy kính này, để trước mặt kiết ấn tụng chú, y Kính Đàn tức được thành tựu.

Phật dạy: "Nếu người ở tại gia, bình thường mỗi buổi sáng mai là thời chưa ăn ngũ tân và đồ huyết nhục, dùng nước tịnh thủy súc miệng sạch sẽ, mặt hướng về phương Đông, đối kính đàn kiết ấn, tụng thần chú 108 biến, cứ thường nhật như vậy, cho mãn 40 ngày không dứt, sẽ có việc lành tốt đẹp, đức Chuẩn Đề Bồ Tát khiến 2 vị thánh thường theo người ấy, tâm người ấy mong muốn điều chi, đều ở 2 bên tai mách nói đầy đủ.

Phật dạy: "Có chúng sanh yểu mạng nhiều bệnh hoạn, tối ngày rằm mỗi tháng, xông an tức hương, kiết ấn tụng chú 108 biến, những loài ma qủy thất tâm (điên loạn), loài dã hồ ác bịnh, đều hiện bổn thân nơi trong Kính Đàn, giết hay tha tùy ý không dám tái đến, tăng thọ vô lượng."

Phật dạy: "Nếu người không có tướng phước đức, cầu quan không toại ý, hãy đối Kính Đàn mà thường tụng chú này, thì phước đức quan vị quyết được vừa lòng". 


 ..."Chỉ trích lược vài điều Phật dạy trong kinh"

Nam Mô Thất Câu Chi Phật mẫu Đại Thánh Chuẩn Đề Vương Bồ tát


LỢI ÍCH CHO NGƯỜI TỤNG KINH CHÚ ĐẠI BI



KINH CHÚ ĐẠI BI - ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI

CHÚ ĐẠI BI - ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI

I - LỢI ÍCH CHO NGƯỜI TỤNG KINH CHÚ ĐẠI BI

Những ai trong đời nầy, nhất tâm trì tụng Đại bi tâm chú thì sẽ được toại nguyện về 15 loại thiện sanh và trừ được 15 loại ác tử.

A. MƯỜI LĂM LOẠI THIỆN SANH:
1.  Nơi được sanh ra thường gặp năm điều lành.
2.  Thường được sanh ở nước lành (thiện quốc).
3.  Thường gặp thời hay, vận tốt.
4.  Thường gặp được thầy sáng, bạn lành.
5.  Thân các căn đều trọn vẹn, đầy đủ (lục căn hoàn cụ)
6.  Đạo tâm luôn được thuần hậu, chơn chánh.
7.  Không phạm cấm giới.
8.  Tình anh em cốt nhục đều được thuận hòa, an lạc.
9.  Trọn đời cơm áo đầy đủ, nhàn nhã.
10. Luôn luôn được mọi người kính mến, thương giúp.
11. Tài sản, của cải không bao giờ bị cướp đoạt.
12. Cầu gì đều được toại ý. (Sở cầu như ý)
13. Luôn được thiện thần, hộ pháp bảo vệ.
14. Nơi được sinh ra thường được nghe Phật thuyết pháp.
15. Khi nghe được Chánh pháp là hiểu ngay được thâm ý mà trực ngộ lời Phật dạy.

B. MƯỜI LĂM LOẠI VỀ ÁC TỬ:
1.  Không bị chết khốn khổ về đói khát, loạn lạc.
2.  Không bị chết vì giam cầm, đánh đập.
3.  Không  bị chết vì thù oán.
4.  Không bị chết nơi trận địa.
5.  Không bị chết vì thú dữ cắn xé.
6.  Không bị chết vì rắn, rết cắn.
7.  Không bị chết cháy hay chết đuối.
8.  Không bị trúng độc khi ăn uống mà chết.
9.  Không bị các loại trùng độc sát hại.
10. Không bị cuồng loạn hay thất vọng mà chết.
11. Không bị cây cối rơi trúng hoặc sa xuống hầm hố mà chết.
12. Không bị người khác trấn ếm, trù ẻo mà chết.
13. Không bị tà thần, ác quỷ làm hại để chết.
14. Không bị chết vì ác bệnh.
15. Không bị chết oan (tự tử, bất đắc kỳ tử, …).

Vì những điều nêu trên, Chú Đại Bi có thể trừ được tất cả những tai nạn, những khổ nạn và thành tựu được những toại nguyện. Những ai chí thành trì niệm thì được những điều lợi ích như trên và sẽ được xa lánh mọi ưu bi, khổ não cho chính mình và có thể cứu giúp được tha nhân như Đại bi tâm của Bồ tát Quán Thế Âm.

II - SỰ LINH ỨNG CỦA KINH CHÚ ĐẠI BI

Chú Đại Bi ở trong kinh " Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni"

Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có Đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra Chú Đại Bi này. Lúc đó ngài mới trụ bực sơ địa, mà sau khi nghe chú này rồi, thì siêu chứng lên bực Bát địa liền, Ngài thấy cái hiệu nghiệm như vậy, thì phát lời đại nguyện rằng: " Nếu qua đời vị lai có thể đem chú này ra mà làm lợi ích cho chúng sanh, thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cánh tay và ngàn con mắt v.v... Ngài nguyện vừa rồi thì quả nhiên tay mắt đều cụ túc tất cả,vả lại Chư Phật phóng quang soi đến thân Ngài và soi khắp vô biên thế giới.

Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng: nếu người nào trì tụng Chú này mổi đêm 5 biến, thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương Chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi tịnh độ. Bằng chứng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác đạo và chẳng đặng sanh về cõi Phật, hay chẳng đặng những pháp tam muội biện tài, và chỗ sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là " Đại Bi tâm đà la ni." .
Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành, và lòng hay nghi, thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.

Chú này ví tụng 12.000 lượt hay in cúng 1.200 quyển thời nhất nhất cầu việc gì đều có hiệu nghiệm cả.
Cầu con có con, cầu bệnh khỏi bệnh, cầu tài có tài, cầu phúc được phúc, cầu tai qua nạn khỏi được tai qua nạn khỏi v.v...

III - NGHE TỤNG CHÚ ĐẠI BI .Thầy Thích Trí Thoát


IV - NỘI DUNG KINH CHÚ ĐẠI BI

(Chúng ta đọc hết bài rồi lập lại 5 lần hoặc  7 lần hoặc 21 lần)
Mỗi lần là một biến.

HÌNH ẢNH KINH CHÚ ĐẠI BI
Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. 

Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da. Ma-ha-tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. 

Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà. 

Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha, tất đà dạ ta-bà ha. Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, ta-bà ha.   Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha.

Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)